Thu, 08 / 2018 1:48 pm | du

Phân tích giá trị hiện thực của đoạn trích Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài

Bài làm:

Vợ chồng A Phủ được trích trong Truyện Tây Bắc của nhà văn Tô Hoài. Ông là một trong những người cầm bút có tài, có tâm. Khi chứng kiến cảnh sống khổ cực, bất hạnh của nhân dân trên Tây Bắc, ông đồng cảm xót xa và viết lên Truyện Tây Bắc. Trong đó, đoạn trích Vợ chồng A Phủ thể hiện rõ nhất sự thật của người dân nơi đây.

Câu chuyện kể về cuộc đời éo le của Mị – một cô gái xinh đẹp của bản làng, ngoan ngoãn, thùy mị, nết na và cuộc gặp gỡ của Mị với A Phủ ở nhà Hồng Ngài. Hai con người cùng khổ ấy đều là nạn nhân của chế độ cầm quyền gian ác, tham lam và tàn bạo.

Mị vốn dĩ là cô gái rất yêu đời, mộng mơ nhưng vì phải trả nợ thay cho cha nên Mị đành gượng ép về làm dâu nhà thống lí, làm vợ A Sử – một gia đình giàu có, quyền thế và ác độc. Kể từ khi bước chân vào đó, cuộc đời Mị bước sang một trang mới. Đau khổ tột cùng, vất vả trăm bề. Trên danh nghĩa là vợ, nhưng cuộc sống của Mị không khác gì một người nô lệ. Mị phải làm việc suốt ngày, suốt đêm, quanh năm ngày tháng, ngày nào cũng vậy. Dần dần Mị thành quen, Mị chẳng nói chẳng cười, chỉ như cái xác vô hồn. Mị không còn là cô gái hay hát hay thổi sáo bằng kèn lá như xưa nữa. Mị đã phải bỏ lỡ những lời hẹn thề với người yêu để về đây làm dâu, làm kẻ hầu người hạ cho nhà thống lí. Những tưởng sẽ được ăn sung mặc sướng nhưng lòng gian ác của bọn chúng đâu có để cho Mị được yên. Và Mị cũng không phải là người vợ duy nhất của A Sử, hắn có đến mấy người vợ. Trong đó có người đã chết tại nơi này rồi. Còn Mị, cuộc sống hiện giờ cũng chẳng khác nào như đã chết. Mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa. Ở cái buồng Mị nằm, kín mít, có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay. Lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng. Mị nghĩ rằng mình cứ chỉ ngồi trong cái lỗ vuông ấy mà trông ra, đến bao giờ chết thì thôi. Cuộc đời Mị hoàn toàn tăm tối, mờ mịt. Và Mị chính là hình ảnh đại diện cho những người dân cùng khổ nơi đây. Họ cũng đang phải sống trong cảnh tù túng, mịt mờ, không rõ tương lai hoặc tương lai đã được định trước trong ngõ cụt bởi thế lực cầm quyền tàn bạo, bất nhân.

phân tích đoạn trích vợ chồng a phủ

Loading...

 

Nhưng sức sống của người dân vẫn luôn tiềm ẩn, họ dù phải sống khổ, sống lầm lũi vẫn luôn nhen nhóm trong lòng những niềm hi vọng khôn nguôi về một ngày mai tươi sáng. Nhân cách và tình yêu cuộc sống trong những cái vỏ bọc lầm lũi ấy chưa bao giờ tắt. Giống như Mị trong đêm tình mùa xuân. Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trử. Mị muốn đi chơi. Lần đầu tiên từ khi bước chân vào nhà thống lí, đây là lần đầu tiên Mị nhận thức về bản thân mình. Hương rượu say nhưng lại làm người ta tỉnh. Tỉnh lại giữa thực tại nghiệt ngã và khổ đau. Mị đã thấy phơi phới trong lòng. Mị nhớ lại những mùa xuân tươi đẹp ngày nào của mình. Mị nhớ người yêu, nhớ tiếng sáo, tiếng hát của trai làng đi hẹn hò. Sức sống trong Mị chưa bao giờ tắt, chỉ là đang bị vùi dập bởi sự tàn bạo của A Sử, của những kẻ bất lương.

Khi A Phủ xuất hiện, bộ mặt thật của giai cấp thống trị đương thời càng lộ rõ bản chất tàn ác, tham lam. A Phủ vốn là cậu bé mồ côi, gan dạ, lớn lên với ước mơ có được một gia đình nhỏ có vợ có con, có tình thương yêu ấm áp. Đó cũng chính là niềm mong ước giản dị và chính đáng của biết bao nhiêu người con trai chân chính khác. Nhưng ước mơ ấy của A Phủ chưa kịp thực hiện đã bị bắt vào nhà thống lí. Vì A Phủ đã đánh nhau với A Sử, khiến hắn bị chảy máu đầu. Trong ngày xử án A Phủ, nhà văn Tô Hoài đã dựng lại rất chân thực toàn cảnh bê bối, thối nát của thế lực cầm quyền nơi đây.Bọn chức việc khắp vùng Hồng Ngài đến nhà thống lí Pá Tra dự đám xử kiện. Các lí dịch, quan làng, thống quán, xéo phải đội mũ, quấn khăn, xách gậy, cưỡi ngựa đến xử kiện và ăn cỗ. Trong nhà thống lí đã bày năm cái bàn đèn. Khói thuốc phiện tuôn ra các lỗ cửa sổ tun hút xanh như khói bếp. Cả những người chức việc bên làng A Phủ cũng tới. Nhưng chỉ bọn con trai làng ấy phải ngồi khoanh tay cạnh A Phủ vì họ bị gọi sang hầu kiện, còn bọn chức việc thì nằm dài cả bên khay đèn. Suốt từ trưa cho tới hết đêm, mấy chục người hút. Trên nhất là thống lí Pá Tra, thống lí Pá Tra hút xong một lượt năm điếu, đến người khác hút, lại người khác hút, cứ thế lần lượt xuống tới bọn đi gọi người về dự kiện. Chỉ có đàn bà ngồi trong buồng hoặc đi lại bên ngoài dòm ngó đám xử kiện và A Phủ quỳ chịu tội ở xó nhà, là không được dự tiệc hút ấy. Cảnh tượng này chính là sự thâu tóm cho toàn bộ giai cấp cầm quyền nơi đây, lộ rõ bản chất thối nát, bê tha, tham lam và độc ác. Vụ kiện thực chất là cơ hội cho bọn chúng mở tiệc hút thuôc phiện, ăn chơi phè phỡn và thể hiện cái uy quyền nhố nhăng của mình. Cho đến tận sáng hôm sau vụ kiện mới xử xong. Bọn xéo phải đang bắc cái chảo đồng và xách ấm nước ra nấu thêm lạng thuốc để hút thêm ban ngày cho các quan làng thật tỉnh, các quan làng còn một tiệc ăn cỗ nữa. Chỉ có A Phủ là phải chịu trói, bị đánh đập suốt đêm. A Phủ cũng chính là đại diện cho tầng lớp người nông dân thấp cổ bé họng, không có quyền có thế, lại càng không có tiền của. Khi rơi vào tay của bọn cầm quyền, cuộc đời A Phủ cũng bước sang một trang mới giống như Mị, sống đời nô lệ lầm lũi, khổ cực và tối tăm. Tất cả mọi chi phí của cuộc xử kiện A Phủ là người phải gánh chịu hết. A Phủ không có tiền, thống lí Pá Tra sẵn sàng cho A Phủ mượn tiền. Điều đó thực chất chỉ là một “lí do chính đáng” để A Phủ trở thành nô lệ cho nhà hắn, có làm mấy đời cũng chẳng thể trả hết được số nợ ấy. Nhất là khi thống lí tính lãi thật nặng để buộc A Phủ phải gánh khoản nợ lớn mà không bao giờ có thể thoát được.

phân tích đoạn trích vợ chồng a phủ

 

Và rồi A Phủ với Mị gặp nhau. Đúng là trong cái bất hạnh vẫn có cái may. Chỉ có những người đồng cảnh ngộ mới có thể thấu hiểu được rõ nỗi đau của nhau. Lúc ấy đã khuya. Trong nhà đã ngủ yên, thì Mị trở dậy thổi lửa. Ngọn lửa bập bùng sáng lên, Mị lé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại. Nhìn thấy tình cảnh như thế, Mị chợt nhwos lại đêm năm trước A Sử trói Mị, Mị cũng phải trói đứng thế kia. Nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không biết lau đi dược. Tròi ơi, nó bắt trói đứng người ta đến chết… Những dòng suy nghĩ miên man trong Mị. Ngọn lửa bập bùng trong đêm như soi tỏa lòng Mị. Lúc này, Mị không còn là cái xác vô hồn nữa. Phải chăng chính giọt nước mắt của A Phủ đã chạm đến tâm hồn Mị? Giọt nước mắt ấy đã đánh thức Mị, thôi thúc Mị hãy đứng lên tự giải thoát cuộc đời mình. Mị băn khoăn suy nghĩ. Ở đây rồi cũng chết. Mà nếu giải cứu cho A Phủ, lỡ bị nhà thống lí phát hiện, Mị cũng sẽ chết. Nhưng cái chết không còn đáng sợ nữa. Mị rón rén bước lại cởi trói cho A Phủ. A Phủ quật sức vùng lên, chạy.

Mị đứng lặng trong bóng tối.

Rồi Mị cũng vụt chạy ra ngoài. Trời tối lắm. Nhưng Mị vẫn băng đi. Mị đuổi kịp A Phủ, đã lăn, chạy, chạy xuống tới lưng dốc, Mị nói, thở trong hơi gió lạnh buốt:

– A Phủ cho tôi đi.

A Phủ chưa kịp nói, Mị lại nói:

– Ở đây thì chất mất.

A Phủ chợt hiểu.

Người đàn bà chê chồng đó vừa cứu sống mình.

Hai người cùng nhau chạy, cùng thoát khỏi nanh vuốt của bọn thống lí gian ác tham lam kia. Không những thế, A Phủ và Mị còn tham gia du kích, cùng nhân dân đứng lên đấu tranh bảo vệ quê hương, đưa mọi người bước sang cuộc đời mới, một cuộc đời hạnh phúc và tự do.

Sau tất cả, nhà văn Tô Hoài đã dựng lại bức tranh hiện thực về cuộc sống khổ cực của nhân dân miền Tây Bắc khi phải gánh chịu những áp bức, bóc lột tàn bạo của giai cấp cầm quyền. Nhưng trong con người họ vẫn luôn ẩn chứa sức sống tiềm tàng, và khi được kết hợp với nhau, sức sống ấy đã trở thành làn sóng mạnh mẽ nhấn chìm mọi đàn áp của giai cấp thống trị thối nát, bê tha. Trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố, cuối đoạn trích Chị Dậu, chị lầm lũi bước vào bóng tối. Điều đó cho thấy nhân dân thời ấy vẫn còn phải chịu khổ cực, lầm than và chưa tìm được lối thoát cho mình. Cho tới Mị, khi chạy khỏi nhà thống lí, Mị cũng đứng trong bóng tối, nhưng Mị không lầm lũi, không nín lặng mà vùng lên chạy để thoát khỏi bóng tối ấy, thoát khỏi cái ô vuông trăng trắng không biết là sương hay là nắng.

Qua đoạn trích, bằng những ngôn từ giản dị, đậm chất Tây Bắc, nhà văn Tô Hoài đã nói lên sự thật về cuộc đời của người dân nơi đây. Họ nhẫn nhịn, kiên trì và mạnh mẽ. Họ không cam chịu bọn thực dân, chúa đất áp bức, đày đọa, giam hãm trong cuộc sống tối tăm đã cùng lên phản kháng, đi tìm cuộc sống tự do.

>>> XEM THÊM:

Loading...
Bài viết cùng chuyên mục