Tue, 02 / 2018 1:17 am | du

Đề bài: Soạn bài Hầu Trời của Tản Đà

TIỂU DẪN

– Tản Đà (1889 – 1939) tên khai sinh là Nguyễn Khắc Hiếu, quê ở Hà Nội.

– Ông sinh ra và lớn lên trong buổi giáo thời.

– Tản Đà theo học chữ Hán từ nhỏ, nhưng sau hai khóa thi Hương hỏng, ông bỏ thi, chuyển sang sáng tác văn chương Quốc ngữ.

– Vao fnhwngx năm 20 của thế kỉ XX, tên tuổi của Tản Đà nổi lên như một ngôi sao sáng trên thi đàn.

Loading...

– Các tác phẩm chính: Khối tình con I, II, Giác mộng con I, II, Khối tình bản phụ, Thơ Tản Đà…

– Thơ Tản Đà vừa phóng khoáng, ngông nghênh, vừa cảm thương, ưu ái .

– Thơ văn ông có thể xem như một gạch nối giữa hai thời đại văn học của dân tộc: trung đại và hienj đại.

– Bài Hầu Trời in trong tập Còn chơi, xuất bản lần đầu năm 1921.


Soạn bài Hầu Trời

Hầu trời

HƯỚNG DẪN HỌC BÀI

Câu 1.

Phân tích khổ thơ đầu:

Đêm qua chẳng biết có hay không,

Chẳng phải hoảng hốt, không mơ mòng

Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể

Thật được lên tiên – sướng lạ lùng.

Khổ thơ gợi cảm xúc rất hào hứng, vui vẻ và phấn chấn. Tác giả gợi ra câu chuyện mình sắp kể là việc mình được lên tiên. Ông khẳng định đó không phải là một giấc mơ, mà hoàn toàn là sự thật. Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể. Tất cả những gì mà Tản Đà đưa ra đã gợi sự tò mò, hấp dẫn và hào hứng cho người đọc.

Câu 2.

Tác giả kể lại chuyện đọc thơ cho Trời và Chư tiên nghe:

Khi ông đang ngâm thơ ở hạ giới, có hai nàng tiên đến báo ông làm Trời mất ngủ, Trời đương mắng, Có hay lên đọc, Trời nghe qua. Ông theo hai cô tiên bay lên trời. Ông đọc hết các thể loại văn vần, văn xuôi, văn lý thuyết, văn xuôi. Trời và các chư tiên đều thích thú, ngợi khen. Nhưng Tản Đà vẫn giữ thái độ khiêm tốn trước những lời ngợi khen đó.

Cá tính và niềm khao khát của nhà thơ:

Tản Đà là nhà thơ có cá tính vui vẻ, phóng khoáng, có chút ngông nhưng vẫn rất khiêm tốn, ngông nhưng không kiêu ngạo, kiêu căng.

– Ông luôn khát khao trở thành một thi sĩ chân chính, có tài năng và giúp ích cho đời.

– Ông cũng rất mạnh dạn thể hiện tài năng thơ văn của mình trước Trời và các chư tiên, ông bày tỏ những nỗi niềm khó nói của người làm văn làm thơ ở hạ giới. Rằng làm một thi sĩ rất nghèo. Vốn dĩ vì đời sống của người dân cũng còn nghèo, người ta cần miếng cơm hơn là đọc thơ đọc văn.

Giọng kể của tác giả:

– Ông kể với giọng rất hào hứng, vui vẻ.

Câu 3.

Cảm hứng của bài thơ là cảm hứng lãng mạn, nhưng trong đó lại có một đoạn rất hiện thực. Đó là đoạn:

Bẩm trời, cảnh con thực nghèo khó

[…]

Biết làm có được dám mà theo

Ý nghĩa của đoạn thơ trên:

– Nhà thơ kể về cuộc đời làm văn, làm thơ của chính mình. Dẫu rằng văn hay chữ tốt nhưng cuộc sống vẫn nghèo khó. Bởi xã hội thời bấy giờ vẫn còn nghèo khó, người ta quan tâm tới miếng cơm, manh áo nhiều hơn là đọc thơ, đọc văn.

– Đó cũng là tình cảnh éo le của những nhà văn, nhà trí thức khác cùng thời.

– Ông ngậm ngùi và xót xa cho chính mình, cho chính những người giống như mình.

– Nhưng ông vẫn bày tỏ quan điểm muốn được trở thành người thi sĩ thực sự, không vì nghèo khó mà bỏ nghề.

Mối quan hệ giữa hai nguồn cảm hứng lãng mạn và hiện thực:

– Lúc trước, Tản Đà hào hứng đọc thơ, đọc văn cho Trời và các Chư tiên nghe. Họ đều rất thích thú và ngợi khen ông. Nhưng khi nói đến cuộc sống nơi trần thế, Tản Đà có chút ngậm ngùi vì cảnh đời mình còn nghèo khó, nghề làm văn làm thơ không kiếm được nhiều tiền dù có viết hay, viết đẹp. Đó cũng là tình cảnh của nhiều nhà văn, nhà thơ khác cùng thời.

– Ông nói lên nỗi lòng của mình nhưng không phải vì thế mà muốn buông xuôi. Ngược lại, ông bày tỏ quan điểm chấp nhận sự khó khăn, thiếu thốn khi yêu thơ, yêu văn.

Câu 4.

Về mặt nghệ thuật, bài thơ có những nét mới rất độc đáo, sáng tạo:

– Cảm xúc xuyên xuốt bài thơ là cảm xúc tự do, phóng khoáng và vui vẻ, hóm hỉnh.

– Thể thơ thất ngôn, tự do về số câu, không bị ràng buộc bởi niêm luật khắt khe.

– Mang hình ảnh Trời và Chư tiên vào bài thơ thể hiện sự ngông rất sáng tạo của nhà thơ.

>>> XEM THÊM :

 

Loading...
Bài viết cùng chuyên mục